Xóm Tân Ấp 1, thuộc xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, nằm giáp ranh với xã Quân Chu, huyện Đại Từ. Từ ngã 3 đường 261 đi vào chợ 3 cây thông, khoảng 6km sẽ đến vùng nguyên liệu chè Tân Cương;  Phúc Thuận có xóm Tân ấp 1 và Tân ấp 2 nằm ở 2 bên bờ sông Công, với nhiều đồi thấp và bãi soi do vậy, điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của vùng đất này rất phù hợp với việc trồng chè. Chè Thái Nguyên có hương thơm, vị đượm, nước xanh, theo kinh nghiệm của người uống chè vùng xuôi thì họ rất thích chè Tân ấp, phúc Thuận vì chè "có hậu" tức là ấm trà có thể nêm 2-3 lần nước sôi vẫn có thể dùng được. Sản phẩm chè Tân ấp đã có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước, chủ yếu được các thương lái thu mua của người nông dân rồi đem đi tiêu thụ.

 Từ nhiều năm nay, người dân Tân Ấp quen với việc trồng chè hạt, tuy dễ trồng, dễ chăm sóc nhưng giá trị thương phẩm không cao; trong vài năm trở lại đây, hầu hết các hộ trồng chè đang chuyển đổi giống chè canh tác truyền thống sang trồng các giống chè mới (chè cành) cho năng xuất và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao hơn so với giống chè hạt. Đến thăm gia đình anh Thông, một chủ hộ chuyên ươm chè giống mới ở xóm Tân ấp 1, được biết anh có 5 vườn ươm giống chè cho cung cấp cho Dự án Qseap và nhu cầu giống của bà con địa phương , hàng năm cung cấp được khoảng 220 vạn hom chè giống đảm bảo chất lượng. Các giống chè chủ yếu là: LDP1, Kim tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát tiên. Với mô hình vườn ươm giống chè tại địa phương đã giúp cho bà con nông dân ở các xã trồng chè trong huyện Phổ Yên có điều kiện thuận lợi để thay đổi về giống chè mới, đến nay các hộ trồng chè đã chuyển sang canh tác giống mới được khoảng 60% diện tích. Khi hỏi về kế hoạch trong năm 2012 và những năm tới, anh Thông chia sẻ: Hiện nay ,các chủ vườn ươm đang gặp khó khăn về vốn và kỹ thuật; các hợp đồng ươm giống giao cho dự án thường bị chậm trong khâu thanh toán nên các chủ vườn ươm rất thiếu vốn để tái sản xuất và mở rộng quy mô;  việc ký hợp đồng cung cấp giống còn qua nhiều khâu trung gian nên thường gặp khó khăn trong việc thanh toán. Mặt khác, các chủ vườn ươm cũng chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật ươm cây giống, vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên tỷ lệ hỏng còn cao làm tăng chi phí sản xuất. Hiện nay, các chủ vươn ươm rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn để sản xuất, mở rộng quy mô vì nhu cầu cây giống hiện nay rất cao; đồng thời  nhà nước và chính quyền các cấp cần hỗ trợ về kỹ thuật ươm giống cho các chủ vườn ươm để nâng cao chất lượng cây giống và giảm thiểu chi phí.

Vườn ươm chè giống của gia đình anh Nguyễn Thế Thông, xóm Tân ấp 1

 

Một điển hình trong sản xuất, kinh doanh chè tại Tân ấp phải kể đến Gia đình Anh Chị: Hoa - Nga; ngôi nhà Chị Nga có vị trí khá thuận lợi, ngay trên mặt đường 261 nếu ai mới đến sẽ tưởng đây là hộ kinh doanh chè Thái Nguyên vì gia đình có đầy đủ các phương tiện phục vụ việc chế biến và tiêu thụ: Hệ thống tôn quay, tủ hàng giới thiệu sản phẩm chè, ô tô tải… Khi đi thăm vườn chè của chị Nga thì chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng vì anh chị có hơn 7000m chè đang cho thu hoạch, búp vẫn xanh tốt nổi bật giữa một vùng chè nguyên liệu và trên 1000m chè mới trồng; giai đoạn này, hầu hết các vườn chè đều ít búp người dân đang tận thu để đốn cành chuẩn bị cho 1 chu kỳ sinh trưởng và canh tác mới. Khi hỏi về kinh nghiệm trồng và chế biến chè, chị Nga Cho Biết: Gia đình chị rất quan tâm đến giống chè mới cho năng xuất và chất lượng cao nên ngay từ khi trên thị trường có giống chè mới trồng bằng hom, anh chị đã nghĩ ngay đến việc phải chuyển đổi từ cây chè hạt sang trông cây chè cành nên đến nay hầu hết diện tích chè thương phẩm của gia đinh đều là giống chè mới có chất lượng cao đáp ứng thị hiếu người dùng; mặt khác, để có chất lượng chè ngon, hương vị đặc trưng thì khâu chăm sóc là đặc biệt quan trọng, việc sử dụng phân chuồng sẽ giúp cho cây chè có thời gian sinh trưởng tốt, bền cây và ít sâu bệnh; đồng thời việc giữ độ ẩm cũng rất quan trọng đặc biệt là những tháng mùa đông ít mưa nên gia đình phải đào giếng to trong khu vực canh tác để chủ động nguồn nước tưới cho cây chè; việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng là một yếu tố quyết định đến chất lượng chè sạch, chè an toàn, gia định chị Nga từ lâu đã dùng thuốc trừ sâu vi sinh để bảo vệ cây chè và người dùng sản phẩm chè. Một khâu quan trọng nữa góp phần không nhỏ đến chất lượng chè đó là quy trình chế biến, công đoạn này hầu hết đều do vợ chồng anh chị tự đảm nhận. Khi được hỏi: sản phẩm chè của gia đình được tiêu thụ ở đâu? Anh Hoa cho biết: Trước đây, gia đình chủ yếu đem sản phẩm ra chợ bán cho các thương lái, nhưng thường bị ép giá bán vào mùa vụ thu hoạch chính nên sản phẩm làm ra không có lợi nhuận; qua tìm hiểu thị trường về nhu cầu của các tỉnh khác, anh chị đã mạnh dạn đưa sản phẩm chè của gia đình đi bán cho các hộ kinh doanh lớn chuyên tiêu thụ chè tại các tỉnh: Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên, TP. Hồ Chí Minh…; để giảm thiểu chi phí đi lại, anh đã mua 1 xe tải nhỏ để phục vụ việc tiêu thụ sản phẩm chè. Do sản phẩm là ra của gia đình còn ít nên anh chị đã thu gom thêm chè khô của bà con xung quanh rồi đưa đi tiêu thu nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao từ cây chè; hàng năm, sản lượng chè búp khô đạt khoảng 2500kg thu nhập từ trồng chè đạt trên 100 triệu đồng.

 

Chị Vũ Thị Nga, xóm Tân ấp 1 kiểm tra vườn chè chuẩn bị thu hoạch vụ đông

Đi dọc tuyến đường 261 từ phổ yên lên Đại từ, vào những ngày cuối năm âm lịch chúng ta sẽ gặp nhiều người đứng ven đường tại các ngả đường rẽ vào thôn xóm để mua - bán chè khô, một sản phẩm chủ yếu của bà con nông dân ở Phúc thuận, Phổ Yên. Khi đến chợ Phúc thuận, vào khu vực giành cho mặt hàng chè thì chúng tôi được biết những người ngồi tại chợ chủ yếu là các thương lái nhỏ đã thu gom từ các hộ sản xuất đem ra chợ bán cho các các thương lái khác từ Thị trấn Phổ Yên, Hà Nội và các tỉnh khác đến mua, số lượng thương lái thường không ổn định, số lượng đông nhưng hoạt động rất manh mún nhỏ lẻ do vậy giá cả thường bấp bênh phụ thuộc vào số lượng người đem bán và người đến mua, không phản ánh đúng gía cả thị trường Nông sản chè mà phần thiệt thòi luôn thuộc về người nông dân. Hiện nay, giá chè búp khô ở Phúc thuận từ 100.000-200.000/kg chè hạt, từ 200.000-300.000đ/ kg chè cành, so với những năm trước thì giá bán năm nay tăng khoảng 20% nên người làm chè có phần đỡ khó khăn hơn trước, nhưng so với công sức lao động của người nông dân thì vẫn là rất rẻ, sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư chăm bón, nhân công thì cũng chẳng được là bao, người nông dân vẫn chủ yêu "lấy công làm lãi". Nguyên nhân chủ yếu là do chè Phúc Thuận nói chung, Tân ấp nói riêng chưa xây dựng được thương hiệu nên giá thành sản phẩm còn thấp, mặt khác đầu ra cho sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào các thương lái, chưa có nhà máy, doanh nghiệp nào đứng ra bao tiêu sản phẩm.

Mua bán chè khô của Thương lái tại chợ Phúc Thuận, Phổ Yên

Một mùa xuân mới đang về, những người nông dân vẫn cần mẫn lao động chăm bón, cắt tỉa cây chè những mong thu hái được thêm lứa chè đông để chi tiêu dịp tết và chuẩn bị cho vụ chè xuân sau tết nguyên đán. Chia tay anh Thông, chị Hoa, chúng tôi rất khâm phục sự chủ động, sáng tạo trong sản xuất kinh tế hộ gia đình, tự làm giầu và đi lên từ cây chè, song chúng tôi không khỏi băn khoăn vì không biết có bao nhiêu hộ gia đình trồng chè có thể áp dụng được mô hình "Sản xuất - Kinh doanh" như gia đình chị Nga. Để mọi người trồng chè đều có thể làm giầu từ cây chè thì cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc xây dựng thương hiệu chè, xây dựng chợ đầu mối để thu mua sản phẩm chè, đồng thời cần có cơ chế phù hợp để người dân sẵn sàng bán sản phẩn chè tươi cho các Nhà máy chế biến chè. Sự kiện Liên hoan Trà Quốc tế lần thứ nhất, Thái Nguyên - Việt Nam 2011 đã và đang mở ra thời kỳ mới cho ngành Chè Thái Nguyên và đời sống của người trồng Chè trong toàn tỉnh./.