Chè Thái Nguyên - Vẻ đẹp của Trà Việt Nam

 
 

Trà được người Hà Nội ướp trong hoa sen để lấy hương thơm.

Một cái Tết nữa sắp về, mưa xuân nhè nhẹ đưa tôi trở về miền ký ức của 3 năm về trước, ngày tôi đặt chân lên xứ người để thực hiện tiếp ước mơ học tập của mình.

Đất nước Trung Hoa rộng lớn thật xa lạ với con bé sinh ra từ hạt lúa củ khoai của vùng đồng bằng Bắc Bộ như tôi. Tôi lao vào học và luôn tìm cách khẳng định mình là người Việt Nam. Một tháng trước Tết âm lịch, cơ hội của tôi xuất hiện. Đó là cuộc giao lưu giữa sinh viên các nước về chủ đề văn hóa trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc mình, đây cũng là bài tiểu luận cho môn Đông Phương học của tôi.

Chúng tôi, một nhóm gồm 3 học sinh Việt Nam xác định đây là cơ hội giới thiệu văn hóa đất nước hình chữ S với bạn bè thế giới, đồng thời ghi điểm trong mắt các sinh viên Trung Quốc. Đây quả thực là một thử thách với chúng tôi, vì nền văn hóa Trung Quốc được coi là một trong những cái nôi của văn hóa phương Đông và Tết dân tộc của họ cũng trùng với Tết dân tộc của chúng ta.

Chúng tôi đã liệt kê mọi phương án có thể: làm các món ăn truyền thống như giò chả, nem rán, canh măng, xôi gấc, bánh chưng, hành muối…, các tập tục chúc thọ, dựng cây nêu, xông đất… cuối cùng, chúng tôi chọn giới thiệu: văn hóa trà Việt Nam. Lấy cái rất lâu đời của người Trung Quốc làm đề tài là một sự mạo hiểm nhưng nếu tạo ra được sự khác biệt thì chúng tôi sẽ thành công rất lớn.

Cả nhóm phân tích chiến lược như những nhà quân sự sắp ra chiến trường và quyết tâm chiến thắng cao hừng hực. Ngày thi đến, hôm đó khu campus của trường như một dạ hội hóa trang sôi động với rất nhiều tiết mục đến từ các nơi trên thế giới. Tới lượt chúng tôi, nhóm diễn tiểu phẩm về cuộc đời một cậu bé sinh ra trong thời bao cấp. Bố cậu là giáo viên, mẹ cậu là công nhân, gia đình lúc đó nghèo như cả xã hội Việt Nam ngày ấy nhưng bố mẹ lúc nào cũng dậy cậu bé rằng: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Từ bé thứ nước uống duy nhất của cậu là bát nước chè xanh, mùa hè là thứ nước giải khát ngon lành và mùa đông là nước uống giữ ấm cơ thể sau những giờ học miệt mài. Cùng với những vấp váp trong cuộc sống, cậu thường nhận được các bài học bổ ích mà bố cậu đã khéo léo “lồng” với cây  chè thái nguyên  để giảng giải. Bố cậu bảo lá chè ở dạng nguyên thuỷ nhất là lá chè xanh mang đun thành nước uống, cũng như mỗi người, dù ở hoàn cảnh nào cũng đều có ích nếu biết vận dụng đúng. Hoặc lá chè còn có thể mang sao và vò ở nhiệt độ cao rất nhiều lần để thành trà khô xoăn chắc, giống như con người phải trải qua gian nan tôi luyện mới có thành người, càng được thử thách nhiều, sức sống càng mãnh liệt.

Khi uống trà, lúc đầu sẽ thấy có vị chát, về sau sẽ là vị ngọt hậu đọng lại mãi nơi cổ họng mà không chịu tan đi. Đó cũng là những gia vị của cuộc sống, sau những thăng trầm vất vả sẽ là kết tinh ra những trái ngọt hạnh phúc. Đó còn là tình yêu và niềm tin vào cuộc sống dù vất vả và gian lao thế nào nhưng vẫn luôn yêu đời để cất cao tiếng hát “rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt. Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát”…

Trà của người Việt thì gia đình nào cũng có, nhưng khi khách đến chơi thì dù lúc đó gia chủ đang làm gì cũng sẽ dừng tay, sửa soạn lại quần áo và pha trà mời khách. Đây là lễ nghi trong giao tiếp, là bài học về sự ứng xử và lòng hiếu khách (thậm chí tôi còn hát một đoạn quan họ “… Khách đến đến chơi nhà. Đốt than quạt nước mới pha trà mời người xơi chén trà này. Quý vậy ơ đôi người ơi” khiến cả hội trường trầm trồ). Trà không thể vắng mặt trong tất cả các dịp quan trọng như hiếu hỉ, giỗ chạp, lễ Tết. Đặc biệt là vào dịp tết Âm lịch, bên chén trà, gia chủ và khách tới chúc Tết để mở đầu cho những may mắn, tài lộc. Và trong không khí gia đình ấm cúng, các thành viên quây quần bên nhau, uống từng ngụm trà, nghe hơi ấm thấm tận hồn, để tự ý thức đầy đủ về đời mình suốt một năm lao động vất vả và gắn kết tình cảm gia đình.

Uống trà của người Việt, dù rất bình dân nhưng là hướng nội để tĩnh tại với lòng mình, là hướng ngoại để kết giao bằng hữu mà không phân biệt sang hèn (cũng là cái khác biệt so với trà Trung Hoa – luôn nhấn vào sự cầu kỳ, kỹ thuật cao siêu và thường giành cho giới vương giả). Giờ đây, khi cậu bé đã trở thành một bác sĩ giỏi cứu chữa được cho nhiều người, mỗi năm Tết đến, cậu được biếu không biết bao nhiêu thứ nước uống sang trọng nhưng với cậu, không gì có thể so sánh được với chén trà của mẹ thuở xưa, đó cũng chính là chén trà của cuộc sống…

Bài thi của chúng tôi, dù quá thời gian tới 15 phút nhưng ngay khi vừa kết thúc, mọi người đứng dậy vỗ tay hưởng ứng vang trời. Gian “Trà Việt quán” đông không tả nổi, bạn bè quốc tế tranh nhau vào thử. Ai cũng nhấp nhấp từng ngụm rồi động viên, khen ngợi. Vui nhất là các bạn Trung Quốc đến bắt tay chúc mừng, tỏ sự ngưỡng mộ và xin làm quen học hỏi, lúc ấy mọi rào cản, mọi ác cảm dường như xóa nhòa.

Năm ấy là Tết đầu tiên xa nhà của tôi nhưng cũng là bước đệm ngọt ngào giúp tôi hoàn thành tốt việc học của mình nơi xứ người và trong hành trang tôi mang theo luôn mang lên hai tiếng: Việt Nam.

Những sự vật trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta ẩn chứa thật nhiều điều, mà chỉ khi gặp điều kiện chúng ta mới cảm nhận được giá trị của chúng, như bát nước chè xanh dân dã đã giúp tôi khỏi giá lạnh nơi xa. Một cái Tết nữa sắp về là lúc để bản thân suy ngẫm về một năm qua với bao sự kiện.